rss

Bạn bè trên blog

News & Update

Đăng kí nhận tin mới từ ۞--TÍ CÒM BLOGSITE--۞.

Vui lòng nhập địa chỉ email:


Top Tí toáy

21-07-2010

Dưới cơn mưa mùa hạ

Cơn mưa đầu mùa hạ dệt nên những tấm lưới bằng thủy tinh trong suốt nhẹ nhàng, dễ vỡ mỏng manh... Người ta tìm thấy trong mưa những thế giới mà ta chưa hề biết đến. Những thân cây xà cừ đen sẫm lại nổi bật trên nền lá đầu hạ xanh non... Mưa lấy màu vàng tươi từ những chiếc lá đang sẵn sàng lao vào một cuộc phiêu lưu mới để vẽ lên những tấm thảm vàng trải dài tưởng như bất tận.... Mưa thả mình vào những góc khuất của con phố nhỏ khiến bước chân người bán bỏng ngô thêm hối hả ... ...Không hiểu sao người ta lại tránh mưa, ngay cả khi người ta chờ đợi từng giọt mưa sau bao ngày hè bỏng rát... ...Không giống như ta ngày còn bé thích dầm mưa và mở rộng mọi giác quan để chào đón và khám phá nó... Hai bàn tay nhỏ xíu giơ ra đỡ lấy từng giọt mưa nặng dần rơi xuống, một, hai rồi ba chấm lạnh... Bàn tay khum khum như muốn giữ lại tất cả..., đôi chân trần lội trong nước để tận hưởng cái mát lạnh của dòng chảy đang mạnh dần lên dưới chân mình... Rồi cả thân hình nhỏ xíu rung động trong làn mưa, trong tiếng ào ào của cả một thế giới sống động như hàng ngàn dây đàn đang rung lên cùng một lúc... Đôi khi ta còn muốn nếm xem, mưa có vị gì, mùi gì... và chẳng hề thất vọng khi khám phá ra rằng, mưa không có mùi gì và cũng không có vị gì cả... ... Ta thích thú ngắm nhìn hàng giờ những giọt nước mưa chạy loăng quăng trên mặt chiếc lá khoai nước, băn khoăn tự hỏi, sao mưa cứ khóc mà chiếc lá khoai kia vẫn chẳng hề rung động... Những hạt mưa làm chú cóc con trong góc vườn ướt sũng, nhảy ra lóp bóp thích thú... Hàng ngàn chiếc vương miện bằng pha lê trong suốt rơi đầy cả sân nhà, khiến cô bé con nào bên cửa sổ khẽ mỉm cười với giấc mơ công chúa... Những cơn mưa to khiến ta thấy muốn mình nhỏ lại, nằm co tròn trong lòng mẹ...để mặc mưa vội vàng đi lướt qua những con đường heo hút... Mưa cố tình giũ đi màu tím của bằng lăng để làm phai bạc những kỷ niệm của một thời... Nhưng một ngày kia, ta chợt khám phá ra rằng... ... mưa có màu bởi trong làn mưa ấy, có cả màu vàng xanh của những đám lá sấu chấp chới ... ... mưa có cả vị mặn của nước mắt, vị chát của mồ hôi... ... và có cả mùi vị của sự đợi chờ, hy vọng... Ta tự hỏi điều gì nối những màn mưa mỏng lại với nhau? Mà đôi khi ta lại thấy, mưa như đang làm rối tung lên những kỉ niệm, ký ức... Tất cả ào ạt về nhưng rồi lại trôi đi mát lạnh trong làn mưa chiều hạ... Hình ảnh đại diện của my_vietnam Hình ảnh đại diện của my_vietnam
Đọc Truyện Online – Theo blog my_vietnam
Vài nét về blogger:
my_vietnam: Nguyễn Đặng Tuấn Minh – “Có một vẻ đẹp mang tên Việt Nam – Việt Nam của tôi”.
[...More...]

16-07-2010

Từ cậu bé nghèo trở thành “ông vua thép”

Mittal, người giàu thứ 5 thế giới, sinh ra trong một gia đình nghèo tại thị trấn thuộc miền Tây Ấn Độ. Gia đình ông từ thời ông nội chỉ toàn sống giữa những cây gai buồn tẻ. Có lẽ vì cái nghèo nên sau khi sinh con ra, bố mẹ của ông đặt tên con là Lakshmi - trong sử thi Ấn là tên của nữ thần về sự giàu có.
  Ước vọng làm giàu Không phụ lòng cha mẹ, ngay từ nhỏ, Mittal đã là một cậu bé có năng khiếu và học giỏi. Lớn lên, ban đầu chỉ với hai bàn tay trắng và đức tính thông minh, giàu nghị lực, nhà kinh doanh Mittal đã đưa ra những chiến thuật kinh doanh hết sức khôn ngoan sáng suốt để mở mang và phát triển kinh doanh thành công nghề thép của gia đình. Với số vốn ban đầu chỉ vài triệu USD vay ngân hàng, đến cuối thập niên 1990, tập đoàn thép Mittal Steel của ông đã trở thành một trong những tập đoàn thép đứng đầu thế giới. Với công suất 80 triệu tấn thép/năm và giá trị thị trường hàng chục tỉ USD, năm 2005, sau khi thâu tóm công ty thép International Steel Group Inc. của Mỹ và công ty Kryvorizhstal của Ukraine, Mittal Steel đã trở thành tập đoàn đứng đầu thế giới về sản xuất thép. Hiện nay, tập đoàn thép của Mittal có những cơ sở sản xuất tại nhiều nước như Pháp, Đức, Ý, Nga, Tây Ban Nha..., với hơn 175.000 công nhân. Vua thép Mittal hiện sống với gia đình tại một khu biệt thự trị giá 128 triệu USD tại Kensington Palace Gardens ở London. Ông có con trai là Aditya Mittal (29 tuổ)i và con gái là Vanisha Mittal (24 tuổi) - cả hai đều tham gia đắc lực vào những công việc chính trong công ty, và đã giúp Mittal kinh doanh phát triển tập đoàn.
Quý từng đồng xu nhỏ
Với những thành công đã đạt được, hiện nay, ông vua thép Mittal có kế hoạch mở rộng hơn nữa vương quốc thép của mình bằng cách sát nhập tập đoàn thép Mittal Steel với công ty Arcelor của tỉ phú Guy Dolle, bạn ông và cũng là một ông vua trong ngành thép. Hai ông đã liên kết cho ra đời một cơ sở mới tại Versailles, Pháp, do con gái Mittal là Vanisha quản lý. Trong tương lai, những cơ sở sản xuất thép liên minh như thế sẽ được 2 ông vua thép tiếp tục mở ra tại những nơi khác trên thế giới. Với tài sản lên tới 23,5 tỉ USD, tuy đã là một trong những người giàu nhất thế giới, nhưng nhà tỉ phú Ấn Độ xuất thân từ gia đình nghèo này vẫn quý từng đồng tiền nhỏ. Theo Forbes nhận định. Mittal sẽ vẫn giữ được vị trí là một trong những doanh nhân giàu nhất thế giới trong những năm tới.
V.A.T Theo Forbes
[...More...]

06-05-2010

Pele, chiếc Radio và World Cup 1958

Pele, huyền thoại bóng đá Brazil và thế giới là người đã khai trương cuộc triển lãm trưng bày các vật dụng cá nhân của cầu thủ nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày đội bóng Vàng Xanh giành danh hiệu vô địch thế giới lần đầu tiên.
Cuộc triển lãm có tên “The King's Marks'' - Dấu ấn của Vua, được tổ chức tại Bảo tàng quốc gia Brasilia nhằm ghi dấu chiến thắng của quốc gia Nam Mỹ này tại kỳ World Cup 1958, thời điểm mà ĐT Brazil vượt qua nước chủ nhà Thụy Điển trong trận chung kết.
Trong số những đồ vật được trưng bày, gây ấn tượng hơn cả có lẽ là chiếc Radio của Pele. Đây là chiếc đài mà vào năm 1950, cậu bé Pele và cha đã lắng nghe buổi tường thuật trận chung kết World Cup giữa Brazil và Uruguay diễn ra trên sân vận động Maracana. Không may là đội chủ nhà Brazil đã thất thủ, và Pele lúc đó mới 9 tuổi đã biết an ủi cha mình bằng những dự đoán hết sức mạnh bạo.

“Cha tôi đã rất thổn thức khi biết tin Brazil thất bại, và tôi – một cậu nhóc - đã nói với ông ấy: Đừng khóc, cha! Con sẽ mang World Cup về cho cha”, Pele kể lại.

Và Pele đã thực hiện được những gì cậu đã nói với cha. Chỉ 8 năm sau – 1958, Pele đã giúp Brazil lên ngôi vô địch World Cup sau chiến thắng tưng bừng 5-2 trước đội chủ nhà Thụy Điển ở thủ đô Stockholm. Khi đó ông mới ở tuổi 17.

Trở lại với cuộc triển lãm, nó không chỉ gây ấn tượng với chiếc Radio của Pele, một vận dụng khác của huyền thoại này là chiếc hộp đánh giày của ông cũng thu hút được sự quan tâm của mọi người. Đó là “đồ nghề” mà ông dùng để kiếm tiền thời thơ trẻ, và nhờ nó mà ông đã mua được cho cha mình một đôi giày đá bóng – cái mà người cha chưa bao giờ có trước đó.
Cũng trong buổi khai trương này, cựu tiền vệ ĐT Thụy Điển Kurt Hamrin, người đã chơi trong trận chung kết 1958, đã tặng Pele một chiếc áo đấu Thụy Điển với con số 58 trên đó.
Sau kỳ trưng bày ở Brazil, cuộc triển lãm sẽ được chu du qua một loạt các quốc gia khác.
V.S
[...More...]

30-04-2010

Giải mã thế giới tâm linh

Từ lâu, nhân loại vẫn có lòng tin về sự có mặt của một không gian có thể đồng hành với thế giới của chúng ta. Và sự suất hiện những khả năng đặc biệt của một số người càng củng cố cho chúng ta niềm tin về sự có mặt của thế giới “bí ẩn”đó. Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề này dưới giác độ khoa học, Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người (NCTNCN) đã ra đời. Nhiều năm trước, đặc biệt là những năm 1990, một số cán bộ quân đội nước ta (Đại tá - nhà báo Hàn Thụy Vũ, Đại tá Tạ Doãn Địch, cố GS. Ngô Vi Thiện…) có mong muốn và đã tìm được mộ của nhiều đồng đội mình với sự hỗ trợ và giúp sức của những người có khả năng đặc biệt (nhà ngoại cảm ): Trần Quang Bích, Nguyễn Thị Phúc Lộc, Thẩm Thúy Hoàn, Phan Thị Bích Hằng…,Trung tâm NCTNCN đã ra đời, dưới sự bảo trợ và đồng tình ủng hộ của Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam( VUSTA ). GS.Viện sĩ Đào Vọng Đức, Nguyên Viện trưởng Viện Vật lý, GĐ Trung tâm NCTNCN cho biết, sự ủng hộ nhiệt tình của GS. Hà Học Trạc và cố GS – Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng, Chủ tịch VUSTA, cuối năm 1996, PGS.TS Ngô Đạt Tam và một số nhà khoa học khác ( cố GS.Ngô Vi Thiện, có GS.TSKH Lê Xuân Tú, GS.TSKH Phan Anh, cố GS.TSKH Nguyễn Đình Ngọc, GS.TSKH Phan Thị Phi Phi, nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, TS Bùi Hoàng Oanh…) đã tập hợp nhau lại thành lập trung tâm. Mục tiêu chính của trung tâm là nghiên cứu môn khoa học về tâm linh (hay còn gọi là khả năng tiềm ẩn của con người). Để việc nghiên cứu có hiệu quả, hoạt động nghiên cứu được thực hiện ở 3 bộ môn: Dự báo và thông tin, Năng lượng sinh học, và Cận tâm lý. Kể từ ngày thành lập đến nay, GS Đào Vọng Đức cho biết, trung tâm luôn hướng vào mục tiêu nghiên cứu những khả năng tiềm ẩn về con người, nhằm ứng dụng những khả năng đó vào thực tiễn cuộc sống phục vụ lợi ích cuả đất nước và cộng đồng. Cụ thể, sau hơn 10 năm hoạt động, trung tâm đã thực hiện thành công nhiều nghiên cứu khoa học có giá trị thực tiễn cao, tìm được hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ và những người quá cố từ thời xưa dưới sự hỗ trợ của những nhà ngoại cảm đến từ khắp ba miền của đất nước. Trong lĩnh vực tìm mộ bằng khả năng đặc biệt, đề tài TK – 06 “Nghiên cứu tìm mộ tập thể liệt sĩ ở Tây Nguyên” năm 2002 do Thiếu tướng, TS Chu Phác, Chủ nhiệm bộ môn Cận Tâm lý chủ trì đã giúp tìm được hàng chục hài cốt của các chiến sĩ ở Knak, huyện Kbang, Gia Lai. Nội dung và kết quả của đề tài có thể được tóm tắt như sau: Tháng 3 năm 1965, trận đánh Trường biệt kích Tây Nguyên ở Knak, huyện Kbang, Gia Lai không thành công đã để lại trên 400 liệt sĩ thuộc tiểu đoàn đặc công 409 ( Quân khu 5), một đơn vị đặc công tỉnh Bình Định và một đơn vị trực thuộc Trung đoàn 95A. 37 năm trôi qua, câu chuyện tưởng đã trôi vào quên lãng. Nhưng, việc ông Phạm Văn Mẫn (thân nhân một trong số liệt sĩ đó) quyết tâm đi tìm mộ đã khiến “bức màn bí mật” được “vén lên”. Được sự giúp đỡ của Bộ Quốc Phòng, Tổng cục Chính trị, Cục chính sách – Tổng cục chính trị, Bộ Tư lệnh và cơ quan quân khu 5, lãnh đạo Bộ Chỉ Huy quân sự, nhân dân tỉnh Gia Lai cũng như huyện Kbang, và một số nhân chứng là cán bộ, chiến sĩ đã trực tiếp chiến đấu tại Knak năm 1965, một số nhà ngoại cảm gồm Phan Thị Bích Hằng, Nguyễn Khắc Bẩy, Thâm Thúy Hoàn cùng với các cán bộ của bộ môn Cận tâm lý Trung tâm NCTNCN, thân nhân liệt sỹ ( ông Phạm Văn Mẫn và Ngô Ngọc Quang) đã tiến hành 6 đợt tìm kiếm cũng diễn ra trong điều kiện hết sức khó khăn, vất vả nhưng kết quả đề tài đã thỏa mãn ước nguyện bấy lâu nay của các thân nhân liệt sĩ, mang lại niềm vui, hạnh phúc lớn lao cho gia đình họ. “Bước đầu thống kê, phân loại một số người có khả năng đặc biệt” do tập thể cán bộ Trung tâm thực hiện cũng là một đề tài khoa học có giá trị thực tiễn và nhân văn rất cao. Theo bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, PGD Trung tâm NCTNCN thì: “Nhìn dưới góc độ khoa học thì những khả năng đó mang tính dị thường, kỳ bí, chỉ có ở một số ít người trong khi hàng triệu, thậm chí hàng chục triệu người không có. Không chỉ thế, những khả năng kì bí đó còn có tác động to lớn đối với đời sống xã hội, ít hoặc nhiều liên quan đến tâm linh và nguồn gốc phát sinh cũng như hệ quả của chúng gắn liền với một lĩnh vực và đang được nhiều sách báo, tạp chí khoa học đề cập…”. Trường hợp của cô Nguyễn Thị Phương ở Hàm Rồng, Thanh Hóa là một ví dụ. Khi trắc nghiệm khả năng đặc biệt của cô Phương tác nghiệp (điện thờ) không cần nói tên mình, tên người đã chết, nhưng “vong” là người của nhà của ai đó về và nhập và cô Phương rồi tự xưng tên, tự gọi người nhà mình vào trò chuyện. Những thông tin về tình cảm gia đình, cuộc sống trong quá khứ và cả những dự báo cho tương lai được trao đi, đổi lại làm cho người nhà của “vong” vơi đi nỗi băn khoăn hoặc cảm thấy thỏa mãn với nguyện vọng của mình. Sau hai năm thực hiện đề tài, các cán bộ khoa học trong nhóm nghiên cứu đã bước đầu nhận định: Những hiện tượng kể trên là có thật, có thực tế chứng minh hoặc đã được trắc nghiệm với yêu cầu bám sát những cơ sở khoa học. Nói về những dự định kỳ vọng của mình trong tương lai, các cán bộ của trung tâm cho biết, họ sẽ biết, họ sẽ tiếp tục mày mò, nghiên cứu để xác định định tính và định lượng ở một tầm cao hơn, ứng dụng vào đời sống cộng đồng tốt hơn. Và , một vấn đề xuyên suốt mà các nhà khoa học quan tâm là làm sao để minh chứng cho người dân thấy đây là một vấn đề khoa học chứ không phải là mê tín dị đoan. Đặc biệt những cái gì, điều gì mình chưa biết thì càng nghiên cứu để biết được bằng mọi phương pháp ( máy móc, thực chứng). Cũng qua quá trình nghiên cứu, các cán bộ Trung Tâm NCTNCN khẳng định, tuy khả năng đặc biệt của một số người là có thật, nhưng nó chỉ mang tính chất tương đối. Một người dù có khả năng đặc biệt đến đâu chăng nữa nhưng khả năng đó cũng không thể tồn tại vĩnh viễn mà lúc có, lúc không và chỉ trong một giai đoạn nào đó mà thôi. Những người có tâm đức, làm việc thiện thì khả năng đó kéo dài hơn. Ngược lại, ai lợi dụng với mục đích “mê tín dị đoan”, “trục lợi, kiếm tiền”… khả năng đó sẽ giảm đi. Do đó, mọi người dù có tin cũng phải có mức độ và phải kết hợp phân tích và chứng minh qua thực tế. Đối với vấn đề nâng cao sức khỏe bằng tác động của năng lượng sinh học cũng thế, ai cũng biết câu : “Có bệnh thì vái tứ phương” (nhưng cũng không nên lạm dụng điều này). Thực tế, có những bệnh phải kết hợp chữa Đông – Tây y và bằng năng lượng sinh học, đặc biệt nếu người bệnh có niềm tin, tinh thần thoải mái, bệnh sẽ mau khỏi hơn. Không vì danh, vì lợi dù còn nhiều khó khăn và thử thách, nhưng các nhà khoa học và cán bộ của Trung Tâm NCTNCN vẫn miệt mài nghiên cứu một cách khách quan bộ môn khoa học đầy bí ẩn và hóc búa này. Họ đã vượt mọi khó khăn, thách thức, gắn bó với công việc của mình với một tình yêu và niềm đam mê bất tận đối với khoa học và con người. Nguồn: Báo Pháp Luật
[...More...]

Người mở cõi đất Phương Nam

Rời vùng cát trắng Quảng Bình, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh "mang gươm đi mở cõi" đất phương Nam. Đến khi mất ông lại được đưa về quê mẹ, song do chiến tranh, loạn lạc, mộ phần của ông bị mất, sau đó hơn 50 năm, hậu duệ của Lễ Thành Hầu mới tìm thấy. Năm 2010, Bộ Văn hóa - Thể Thao và Du lịch phối hợp với tỉnh Quảng Bình kỷ niệm 310 năm Ngày mất của Nguyễn Hữu Cảnh. Và những câu chuyện về người "mở cõi" phương Nam lần đầu được tiết lộ. "Mang gươm đi mở cõi” hiều đầu năm, chúng tôi may mắn được tiếp chuyện ông Nguyễn Hữu Tiến, hậu duệ đời thứ 10 của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh trước nhà thờ họ Nguyễn Hữu ở Vạn Ninh, Quảng Ninh, Quảng Bình. Theo gia phả của dòng họ mà ông Tiến còn giữ được Nguyễn Hữu Cảnh là con thứ của Chiêu Vũ hầu Nguyễn Hữu Dật, em của Hào Lương hầu Nguyễn Hữu Hào, sinh tại Phước Long, Chương Tín, Phong Lộc, Quảng Bình. Là dòng dõi danh tướng, lớn lên trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh, lại thông minh, lập được nhiều chiến công nên Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Tần phong chức Cai cơ khi mới tuổi đôi mươi. Người làng thường gọi Nguyễn Hữu Cảnh là "Hắc Hổ". Năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống binh đem quân bình định biên cương, thành lập trấn Thuận Thành (Ninh Thuận, Bình Thuận ngày nay). Sau đó ông được cử làm Trấn thủ dinh Bình Khương (Khánh Hòa, Bình Thuận bây giờ). Tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn phong Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống suất kinh lược xứ Đồng Nai. Nguyễn Hữu Cảnh đi ngược dòng Đồng Nai, đến đóng đại bản doanh ở Cù lao Phố. Thuở ấy xứ Đồng Nai toàn là rừng núi âm u, sông rạch thì chằng chịt, mãnh thú, ác ngư đầy rẫy... Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh đã đưa ra nhiều kế sách: Khai hoang mở cõi, dàn xếp biên cương, thiết lập cơ quan hành chính địa phương, lập phủ Gia Định và chính thức cho sáp nhập vùng đất cực Nam này vào bản đồ Đại Việt... Chỉ trong một thời gian ngắn, vùng Đồng Nai - Bến Nghé đã nhanh chóng trở nên trù phú, rộng lớn. Tháng 4 năm Canh Thìn (1700), Nguyễn Hữu Cảnh kéo quân về đóng ở cồn Cây Sao (nay là Chợ Mới, An Giang) và báo tin thắng trận về kinh. Sau đó, ông lâm bệnh trọng và mất vào ngày 9/5 năm Canh Thìn (1700) tại Rạch Gầm, Mỹ Tho. Đến ngày 16-5, linh cữu ông được đưa về an táng tại Hiệp Hoà (Biên Hòa - Đồng Nai). Năm 1802, di hài ông được đưa về an táng tại Phước Long, Chương Tín, Phong Lộc, Quảng Bình. Đến năm 1945, chiến tranh, loạn lạc đã xóa đi dấu tích phần mộ ông. Sau đó ít năm, hậu duệ của Lễ Thành Hầu đã đi tìm, nhưng phần mộ của ông vẫn mịt mù không biết nơi đâu... 50 năm đi tìm mộ tổ Ông Nguyễn Hữu Chương được coi là người đầu tiên đi tìm mộ Nguyễn Hữu Cảnh, hàng chục năm trời ròng rã đi tìm, nhưng cuối cùng ông đành phải nắm tay con trai là ông Nguyễn Hữu Tiến dặn dò: "Phải tìm cho được mộ tổ Nguyễn Hữu Cảnh". Suốt gần 10 năm tiếp theo ông Chương cùng 3 con trai đã không biết bao lần ra đi rồi lại phải về tay không. Ông Chương cứ tự trách mình, tại sao không thể định hình được nơi cụ tổ nằm, dù trước năm 1945, ông đã nhiều lần đến đó tảo mộ. Hàng ngày ông Chương cầm cuốn gia phả có tuổi đời gần 300 năm của họ ra xem thấy tiên tổ khẳng định Nguyễn Hữu Cảnh chôn tại Quảng Bình, lòng ông lại rối như tơ vò. Năm 1985 ông Chương qua đời, với một nỗi buồn mang nặng trong lòng vì chưa tìm ra một tổ. Năm 1995, trong khi cơ quan chức năng đang tổ chức hội thảo nhằm tìm ra vị trí của mộ phần Nguyễn Hữu Cảnh, thì ông Tiến và cựu chiến binh Nguyễn Phúc Thuần, cũng ở Vạn Ninh bất ngờ tìm ra mộ Nguyễn Hữu Cảnh từ một giấc mơ đầy tâm linh. Ông Thuần kể lại giấc mơ kỳ lạ của mình: Tối đó, sau khi ngồi uống nước trà cùng hàng xóm xong, ông lên giường ngủ, đến khoảng 12h đêm tự dưng ông tỉnh dậy, thấy cổ khô khát và ớn lạnh rồi ông thiếp đi. Trong cơn mơ, ông Thuần thấy một cụ già người to cao, râu tóc bạc trắng, mặc áo xanh, tay cầm kiếm, bên cạnh có hai người khác theo sau đi vào nhà và bảo ông: "Ngày mai dậy đem theo một ít gạo và đồ dùng để nấu ăn". Tiếp đó ông lại nhìn thấy một người đàn bà và một đứa trẻ chăn trâu... Ông choàng tỉnh rồi ngủ tiếp, đến gần sáng, ông lão ông Thuần gặp trong mơ lại xuất hiện giục ông dậy đi kẻo trễ. Không hiểu sao lúc đó ông bật dậy, chạy ngay lên nhà ông Tiến và nói: "Sáng nay sẽ tìm ra mộ Đức ông". Ông Tiến, ông Thuần và một người cháu ngoại bắt đầu cuộc tìm kiếm. Loanh quanh giữa vùng đồi núi mà không kết quả, 3 người thống nhất chia nhau đi tìm. Ông Thuần thấy khát nước nên tìm đến con suối gần đấy. Đến đây ông bất ngờ gặp một người đàn bà. Ông nghĩ lại trong giấc mơ đêm qua có gặp một người đàn bà, ông Thuần vội gọi ông Tiến lại để đưa bức ảnh chụp bia mộ cụ Nguyễn Hữu Dật và hỏi xem bà này có thấy ngôi mộ nào có tấm bia tương tự. Bà này cho biết, trước đây thì có, nhưng nay các bia chữ Hán đã bị phá, hỏng gần hết. Rồi bà chỉ tay về phía khu nhà dân có nhiều bia mộ. Theo tay người đàn bà chỉ, đi được một quãng, bất ngờ ông Thuần gặp một đứa trẻ đang chăn bò (lại trùng hợp với giấc mơ đêm qua). Tim đập thình thịch, lại gần đứa bé, ông chìa tấm ảnh ra hỏi thăm. Đứa trẻ cho biết có một chỗ có tấm bia như thế. Sau khi thắp hương, chụp lại ảnh cả hai mặt của tấm bia mộ, ông Tiến, ông Thuần ra về. Tiếp đó ông Tiến báo cáo với Sở VHTT tỉnh. Mấy ngày sau, GS Trần Quốc Vượng nhân chuyến công tác ở Quảng Bình, sau khi xem qua đã khẳng định, đây chính là bia mộ của Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh. Ở mặt trước tấm bia ghi "Vĩnh An Hầu Nguyễn Hữu Cảnh chi mộ", theo GS Vượng, đó là tước hiệu cao nhất vua ban cho, sau khi Ngài mất. Sau khi tìm thấy, lăng mộ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh đã được xây dựng lại rất bề thế tại xã Trường Thủy, huyện Lệ Thủy, xứng đáng với công trạng của Ngài

                                        Hậu duệ đời thứ 9 của Nguyễn Trãi
Theo sử liệu ghi lại, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là bậc công thần đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), quê gốc ở Gia Viễn, Ninh Bình, sinh ra ở xã Chương Tín, huyện Phong Lộc (nay là xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, Quảng Bình). Nguyễn Hữu Cảnh là hậu duệ 19 đời của khởi tổ Nguyễn Bặc; hậu duệ 9 đời của hậu tổ Nguyễn Trãi. Ngoài trí tuệ trác việt, ông còn là người rất dũng cảm, thiện chiến. Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh còn là người nhân hậu, luôn nhớ về cội nguồn. Ngày nay, các địa danh hành chính quận, huyện, xã, tỉnh ở TP HCM và các tỉnh lân cận như: Tân Bình, Bình Dương, Bình Đông, Bình Tây, Bình Tiên, Bình Quới… đó đều là những tên gọi mà khi xưa Lễ Thành Hầu đặt để tưởng nhớ nơi sinh quán Quảng Bình.

S.Lam-V.Quý(CAND Online)
[...More...]

29-04-2010

Sad Movies ( Make Me Cry ) - Boney M



Lyric: Sa-a-a-d movies always make me cry He said he had to work so I went to the show alone They turned down the lights and turned the projector on And just as the news of the world started to begin I saw my darlin' and my best friend walk in Though I was sittin' there they didn't see And so they sat right down in front of me When he kissed her lips I almost died And in the middle of the color cartoon I started to cry. Oh-oh-oh sa-a-a-d movies always make me cry Oh-oh-oh sa-a-a-d movies always make me cry And so I got up and slowly walked on home And mama saw the tears and said “what's wrong?” And so to keep from telling her a lie I just said “sa-a-a-d movies make me cry” Oh-oh-oh sa-a-a-d movies always make me cry Oh-oh-oh sa-a-a-d movies always make me cry Ooh, ooh, ooh, ooh, ooh Ooh, ooh, ooh, ooh Sa-a-a-d movies make me cry-y-y.

[...More...]

16-04-2010

Đại tướng Văn Tiến Dũng - Vị tướng chiến lược

Đại tướng Văn Tiến Dũng (2/5/1917 – 2002), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương, nguyên Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam (1954 – 1978), nguyên Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông là vị tướng chiến lược số hai của Việt Nam, được giới quân sự Thế giới đánh giá cao Huân chương Sao vàng (1995), Huân chương Hồ Chí Minh (1979), Huân chương Quân công hạng Nhất – Nhì, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất – Nhì – Ba, Huy chương Quân kỳ quyết thắng. Ngoài ra ông còn được tặng thưởng Huy hiệu Hồ Chí Minh (1967), Huân chương Tự do hạng Nhất của Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Huân chương Ăng-co của Nhà nước Căm-pu-chia. ""Đồng chí Văn Tiến Dũng là một trong những tướng lĩnh tài năng xuất sắc của quân đội ta, là người học trò ưu tú của Chủ tịch Hồ Chí Minh". (Đại tướng Võ Nguyên Giáp) Ông được phong Thiếu tướng ngay trong đợt phong Quân hàm đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam (1948), Thượng tướng 1959 – là Thượng tướng thứ hai của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng năm 1974. Đại tướng Văn Tiến Dũng (Lê Hoài) quê tại xã Cổ Nhuế (xưa gọi là Kẻ Noi), huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Ông sinh năm 1917, là năm của Cách mạng tháng Mười Nga. Nhà nghèo, không ruộng đất, mẹ mất sớm, ông theo cha ra Hà Nội sinh sống. Tại Hà Nội, cha ông làm bảo vệ tại nhà thương Phủ Doãn (nay là Bệnh viện Việt – Đức). Đến tuổi đi học, ông trở lại quê theo học tại Đông Ngạc, cách nhà 3 cây số. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo khó cho nên ông rất cố gắng học hành. Khi 15 tuổi, cha đột ngột qua đời, ông đành phải bỏ học, ở nhà trợ giúp cho anh làm nghề thợ may. Dẫu không đến lớp, nhưng Văn Tiến Dũng vẫn tranh thủ lúc rảnh rỗi, mua sách về tự học thêm các môn Lịch sử, Pháp văn, Văn học... Năm 1935, nhằm bớt gánh nặng cho anh chị, 17 tuổi, Văn Tiến Dũng xin anh cho ra Hà Nội làm công cho các xưởng dệt Thanh Văn (Hàng Đào), sau chuyển sang xưởng Đức Xương Long, Cự Chung (Hàng Bông). Hàng ngày ông phải làm việc 10 giờ bất kể Chủ nhật, có hôm bị chủ bắt làm tới 12 giờ. Cũng chính trong những ngày tháng gian lao, cực nhọc này, Văn Tiến Dũng được giác ngộ và bước chân vào cuộc đời cách mạng, nhanh chóng trở thành một chiến sĩ xuất sắc. Tháng 11/1937, ông được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương. Cuối năm 1938, ông được cử làm Bí thư chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội. Năm 1939, ông được cử làm Thư ký Ban thường trực Liên đoàn lao động Hà Nội và tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội. Năm 1936, ông tham gia phong trào đấu tranh công khai của công nhân Hà Nội. Tháng 12/1936, ông tham gia tổ chức cuộc bãi công đầu tiên của công nhân xưởng dệt Hà Nội. Tháng 7/1939, ông bị Thực dân Pháp bắt, nhưng do không có bằng chứng nên chúng buộc phải thả ra sau 3 ngày giam giữ. Hai tháng sau, ông lại bị Thực dân Pháp bắt giam, bị kết án 2 năm tù về tội tàng trữ tài liệu, sách báo, tuyên truyền các khẩu hiệu của Đệ tam Quốc tế và gây rối trị an. Tháng 11/1939, ông cùng một số chiến sĩ cách mạng bị Pháp đày đi nhà tù Sơn La. Vượt qua mọi gian nguy, hà khắc của nhà tù thực dân, hai năm sau, trên đường bị địch áp giải từ Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, ông đã nhanh trí trốn thoát. Ngay sau khi thoát nhà tù Thực dân Pháp, ông tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức mà đại diện là “Anh to đầu” – người thợ in Nguyễn Văn Đáng, tức Trần Đăng Ninh (sau này là Tổng cục trưởng Tổng cục cung cấp Quân đội Nhân dân Việt Nam), một trong những cán bộ kiệt xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ít lâu sau, ông Trần Đăng Ninh bị bắt và Văn Tiến Dũng bị mất liên lạc hoàn toàn với tổ chức. Không trở về quê vì đang bị Thực dân Pháp truy lùng, ông quyết định rủ Nguyễn Tiến Lãng – Cũng là một chiến sĩ hoạt động tích cực trong thời kỳ 1936 – 1939 (thời kì của Mặt tộc dân chủ), chưa bị lộ tung tích – về Hà Đông để vừa gây dựng phong trào và chờ dịp nối liên lạc với Trung ương. Cùng với Nguyễn Tiến Lãng, ông sắm vai thợ mộc đi về các làng xóm sửa chữa vặt các đồ gỗ, đồng thời khéo léo tuyên truyền cách mạng. Sau đó ông làm mướn cho một bà cụ chuyên bán hàng ở chợ Nứa (mỗi tháng 6 phiên, làng Đoan Nữ, Mỹ Đức, Hà Tây). Lúc rảnh rỗi, Văn Tiến Dũng rủ con trai bà chủ la cà vào trong xóm kết bạn với trai làng cho đến khi thân thì lựa lời giác ngộ họ. Chẳng bao lâu sau, chi bộ Đảng vùng này được thành lập và lan sang cả làng bên (Vĩnh Lạc). Trong thời gian này, ông còn giác ngộ được Lý Bảng khiến cho gia đình Lý Bảng trở thành một cơ sở của Việt Minh – tên thật là Nguyễn Viết Bảng, lý trưởng làng Vĩnh Lạc, một người có học thức, yêu thơ văn, yêu nước và căm ghét Thực dân Pháp. Những hoạt động của ông khi làm thuê cho bà cụ chủ hàng bị để ý bởi mật thám, được sự giúp đỡ của Lý Bảng, ông tạm thời xuống tóc đi tu tại ngôi chùa bỏ hoang Bột Xuyên thuộc huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây nhằm che mắt mật thám tiếp tục bám cơ sở để tuyên truyền Cách mạng. Lúc này ông 25 tuổi. Tháng 3/1943, ông bắt được liên lạc với Đảng và được chỉ định làm Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Đông. Tháng 6/1943, ông được chỉ định tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ. Ngày 8/1/1944, ông làm Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh. Tháng 4 /1944, ông được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ. Sau khi kết thúc một khóa học về Quân sự tại An toàn khu, tháng 8/1944, ông bị thực dân Pháp bắt lần thứ 3. 3 giờ sáng ngày 27/12/1944, ông đã dũng cảm vượt ngục. Chỉ ít ngày sau, Tòa án thực dân ở Bắc Ninh đã kết án ông tử hình vắng . Tháng 4 năm 1945 trong Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ do Trung ương Đảng triệu tập, ông được cử vào Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ (Bộ tư lệnh miền Bắc Đông Dương) cùng với các ông Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh, Lê Thanh Nghị, Chu Văn Tấn. Đồng thời được chỉ thị trong thường trực của Ủy ban hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thường vụ Trung ương Đảng và phụ trách trực tiếp chấn chỉnh tổ chức Chiến khu Quang Trung gồm các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, thành lập các đơn vị Cứu quốc quân, chuẩn bị và tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám giành chính quyền ở các tỉnh kể trên. Tháng 8/1945, ông chỉ đạo vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa. Sau cách mạng tháng Tám, tháng 11 năm 1945, ông được giao nhiệm vụ lập Chiến Khu II (gồm 8 tỉnh phía Tây Bắc và Tây Nam Bắc Bộ), làm Chính ủy chiến khu, tham gia Quân ủy Trung ương vừa chỉ đạo một số đơn vị của khu “Nam tiến” đánh Pháp, vừa chỉ đạo các cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp từ Vân Nam (Trung Quốc) và từ Sầm Nưa (Lào) tiến công vào Lai Châu, Sơn La. Tháng 12/1946, ông là Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam, Phó bí thư Quân ủy Trung ương. Ngày 25 /1/1948, ông được phong quân hàm thiếu tướng. Từ tháng 10/1949 đến năm 1950, ông là Chính ủy Liên khu 3, kiêm Tư lệnh liên khu, tham gia Thường vụ Khu ủy Khu 3. Tháng 1 năm 1951, sau chiến dịch giải phóng Biên giới Việt-Trung, ông được Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Bộ Tổng tư lệnh cử ra thành lập và làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đại đoàn chủ lực 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) một đại đoàn hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ. Tháng 11 năm 1953, sau chiến dịch phản công liên tiếp của quân và dân ta đánh bại cuộc hành quân Hải Âu của quân đội Pháp ra tây nam Ninh Bình kết thúc, ông giữ chức Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và tham gia Tổng quân ủy và là Tổng tham mưu trưởng lâu nhất tính cho đến hiện nay (thay Đại tướng Hoàng Văn Thái). Năm 1954, ông là Trưởng đoàn đại biểu của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến thi hành Hiệp định Giơ ne vơ. Từ năm 1954 đến năm 1978, ông là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông đã cùng các ông trong Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang. Đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không-không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân của ta đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc Việt Nam. Ông, trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch: Đường 9 Nam Lào (mùa Xuân 1971) đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của Quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân Mỹ nhằm phá hủy các đơn vị hậu cần dọc biên giới Việt Lào của miền Bắc chi viện cho miền Nam nhằm cắt đường chiến lược Hồ Chí Minh. Trị Thiên (3/1972) tiêu diệt sư đoàn quân đội Việt Nam Cộng hòa cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của chúng giải phóng tỉnh Quảng Trị. Điện Biên Phủ trên không (12/1972) đánh bại cuộc tập kích đường không của Mỹ đối với miền Bắc Việt Nam (12/1972) đập tan huyền thoại B52 của Đế quốc Mỹ buộc Mỹ phải ngồi vào phòng đám phán tại Paris 1973 và rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Chiến dịch giải phóng Tây Nguyên (1975), trong chiến dịch này ông thay mặt Bộ Chính trị chỉ đạo chiến dịch (Tư lệnh chiến dịch là Trung tướng Hoàng Minh Thảo, Chính ủy là Đại tá Đặng Vũ Hiệp). Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh (4/1975), giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Chiến dịch Hồ Chí Minh là một trong những đỉnh cao trong đường binh nghiệp của ông, được giới quân sự trên Thế giới đánh giá cao vì chiến dịch đã giải phóng Sài Gòn trong một thời gian ngắn, trong hiện trạng gần như nguyên vẹn. Trong khi Quân đội Sài Gòn tập trung ở đây một lượng lớn lực lượng cũng như binh khí kĩ thuật. Với kinh nghiệm của một vị tướng đã dạn dày trận mạc, ông đã chỉ đạo những lối đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, biết tạo thời cơ, nắm thời cơ, chủ động tiến công tiêu diệt địch, giải phóng Sài Gòn-Gia Định, giải phóng hoàn toàn miền Nam. Từ tháng 5/1978 đến năm 1986, ông được Bộ Chính trị Trung ương Đảng giao nhiệm vụ là, Phó bí thư thứ nhất Quân ủy Trung ương. Tháng 2/1980 đến 1986 ông là Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.Từ năm 1984 đến 1986 ông là Bí thư Đảng uỷ Quân sự Trung ương. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm về quân sự như "Mấy vấn đề về nghệ thuật quân sự Việt Nam"... Ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II (2/1951); Ủy viên Trung ương, Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị khóa III (3/1960); Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng (3/1972). Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976), ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị. Ông được bầu làm đại biểu Quốc hội và Ủy viên Hội đồng Quốc phòng từ khóa II (1960) đến khóa VII (1981 – 1986). Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được phân công phụ trách chỉ đạo công tác Tổng kết kinh nghiệm chiến tranh và biên soạn lịch sử Quân đội. Là Tổng Tham mưu trưởng của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong một thời gian dài, vị Tổng tham mưu trưởng lâu năm nhất (từ năm 1954 đến năm 1978), tên tuổi của ông luôn gắn liền với những chiến thắng lớn của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp ông là một trong hai vị tướng chiến lược của Cách mạng Việt Nam được cả Thế giới biết đến. Trong kháng chiến chống Pháp, ông được cử làm Tổng tham mưu trưởng thay Đại tướng Hoàng Văn Thái (khi đó là Thiếu tướng) khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra quyết liệt ở giai đoạn cuối. Sau 9 năm kháng chiến trường kì, Quân đội ta đã trưởng thành vượt bậc. Cách tác chiến của ta không còn là ở ‘Tiểu đoàn tập trung, đại đội độc lập’ nữa mà đã có những binh đoàn chủ lực, có khả năng đọ sức với những đơn vị được trang bị hiện đại Thực dân Pháp cũng như tiến hành những chiến dịch Quân sự trên một diện rộng quy mô toàn quốc. Tuy nhiên việc phối hợp tác chiến và đề ra chiến lược trên một quy mô rộng như vậy làm công tác tham mưu trở lên hết sức phức tạp và đặc biệt khi ta quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, một chiến dịch quyết định thành công của công cuộc kháng chiến 9 năm của cả dân tộc – Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tổng tham mưu trưởng trong một hoàn cảnh như thế. Trong chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ, mặc dù không trực tiếp ra chiến dịch nhưng ở Căn cứ địa Việt Bắc ông trở thành một trong hai chỉ huy Quân sự cao nhất, tham mưu cho Bộ chính trị mở một loạt các chiến dịch nhằm hỗ trợ cho Chiến dịch Điện Biên Phủ. Tuy nhiên, trên Thế giới ông được biết đến nhiều hơn trong cuộc Kháng chiến Chống Mỹ cứu nước, khi trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn như Đường 9 Nam Lào (1971), Trị Thiên (1972), Chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tây Nguyên (3/1975) và đặc biệt Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử (4/1975). Trong con mắt của giới quân sự phương Tây thì ông luôn được xem như là một người cộng sự ăn ý của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về tư tưởng và ý đồ quân sự. Gần 70 năm hoạt động cách mạng liên tục, kiên cường, Đại tướng Văn Tiến Dũng trở thành nhà quân sự chiến lược có uy tín của quân đội ta; là một trong những vị tướng chỉ huy xuất sắc; là người lãnh đạo đầy tinh thần cách mạng tiến công, đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến tranh nhân dân ta qua các cuộc kháng chiến và đối với nền khoa học nghệ thuật quân sự cách mạng Việt Nam. Chính những năm tháng hoạt động cách mạng của ông cùng với các vị tướng tài ba của quân đội ta là những bước thể nghiệm thành công những vấn đề về lý luận quân sự của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện thực tiễn chiến tranh Việt Nam. Từ lý luận đến thực tiễn và từ thực tiễn bổ sung hoàn thiện thêm lý luận đã được Đại tướng thể hiện thành công qua các tác phẩm hồi ký, luận văn quân sự, những bài viết, huấn lệnh, chỉ thị… có giá trị trong quá trình chỉ đạo đấu tranh và tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Theo:Doanthanhnienftu
[...More...]

Tác giả phim "Việt Nam-Cuộc chiến 10.000 ngày": Lịch sử là sự thật,



Trong vòng 25 năm, với cương vị phóng viên thường trú nước ngoài của Tập đoàn Truyền thông Canada CBC, ông đã đưa tin về các cuộc chiến tranh ở hơn 80 nước. Năm 1969, ông là phóng viên phương Tây đầu tiên được phép đưa tin từ chiến trường miền Bắc Việt Nam. Những phóng sự của ông về đám tang Hồ Chủ tịch, những trận đánh bom tàn khốc của Mỹ tại miền Bắc Việt Nam được chuyển tới các kênh truyền hình của hơn 90 nước trên thế giới, cả trên những mạng lưới truyền thông của Mỹ. Thời báo New York đã đặt ông viết rất nhiều bài báo về chiến tranh Việt Nam. Những phóng sự thời chiến ông thực hiện ở miền Bắc Việt Nam mang đậm tâm lý phản chiến Không chấp nhận quan điểm về chiến tranh Việt Nam của những đồng nghiệp trong Tập đoàn Truyền thông Canada CBC, những năm của thập niên 1970, M.Maclear chuyển sang làm cho mạng lưới truyền thông CTV, sau đó là sản xuất các chương trình truyền hình độc lập. Chính khi đó, bộ phim Việt Nam - cuộc chiến mười nghìn ngày ra đời. Đây là kết quả của những chuyến thực tế của ông những năm 1969, 1970 và 1972 đến miền Bắc Việt Nam; những cuộc tiếp xúc với chính quyền ngụy vào đầu những năm 1960.



Bộ phim được hoàn thành vào cuối những năm 1980. Rất nhiều nước trên thế giới đã chiếu bộ phim này. Lần đầu tiên, sau hàng thập kỷ của cuộc chiến, người phương Tây biết được bản chất của một sự thật đã khiến Mỹ thất bại ở Việt Nam. Đó là một "xã hội du kích", là "sự đoàn kết một lòng của người dân Việt Nam" - theo cách nói của M.Maclear. Khác hẳn với những phóng sự trước đó của mình, đạo diễn M.Maclear đã không và không muốn đưa vào bộ phim quan điểm phản chiến của mình, mặc dù trước đó chính điều này đã khiến ông từ bỏ Tập đoàn Truyền thông CBC. Trong bức thư mới đây của mình, ông khẳng định với phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam là bộ phim được thực hiện với một thái độ hết sức trung lập. Mục đích của ông và các đồng nghiệp (người viết kịch bản, lời bình và đi phỏng vấn trong 13 tập phim là ông Peter Arnett - nguyên là “con ách chủ bài” của CNN trong cuộc chiến Vùng Vịnh 1991) là cố gắng ghi lại lịch sử một cách chân thực nhất, để những thế hệ sau xem và tự đưa ra những đánh giá của riêng mình. Bởi lịch sử là thế. Không được tô vẽ hay thêm bớt Nhưng trên thực tế, tất cả những ai đã xem phim đều thấy đó là một cuộc chiến tranh hết sức sai lầm và phi nghĩa mà người Mỹ đã tiến hành ở Việt Nam. Việt Nam - cuộc chiến mười nghìn ngày được hoàn thành với sự cộng tác của Cục Lưu trữ điện ảnh Quân đội Nhân dân Việt Nam
Tóm tắt 13 tập phim Tập 1: Người Mỹ ở Việt Nam - Điểm qua các mốc chính trong cuộc chiến của Việt Nam từ giai đoạn 1945-1975; cái nhìn của Mỹ về Việt Nam từ năm 1945: coi Việt Nam như là một nước Đông Dương, thuộc địa của Pháp; nguyên nhân dẫn tới thất bại của Mỹ năm 1975. Tập 2: Điện Biên Phủ - Phân tích thất bại của Pháp, Việt Nam kết thúc giai đoạn thuộc địa. Điện Biên Phủ cũng là trận chiến dẫn tới 20 năm can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Tập 3: Những ngày quyết định - Phân tích những quyết định quan trọng của Tổng thống Johnson dẫn tới chiến tranh: thất bại của chính quyền miền Nam Việt Nam và vụ Vịnh Bắc Bộ khiến Tổng thống Jonhson tăng cường đánh bom miền Bắc, tăng cường lính Mỹ ở thực địa. Tập 4: Những đồng minh khó tính - Sự chuyển hướng của Mỹ từ cuộc chiến tranh phòng thủ và liên minh với miền Nam Việt Nam thành người kiểm soát cuộc chiến. Những đồng minh khó tính ở đây chính là chính quyền Sài Gòn, họ đã không theo đúng những toan tính của Mỹ. Tập 5: Đường mòn Hồ Chí Minh - Không bị khuất phục trước những trận càn của bộ binh Mỹ, những trận bom của không lực Hoa Kỳ, quân đội và du kích Việt Nam tiến vào miền Nam qua những khu rừng rậm, núi cao và đường hầm. Đường mòn Hồ Chí Minh có một vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc chiến. Tập 6: Vũ khí - Phân tích chiến lược của Mỹ nhằm chấm dứt chiến tranh bằng hỏa lực trên không; 15 triệu quả bom được thả xuống, hơn 500.000 lính bộ binh Mỹ có mặt tại Việt Nam. Tập 7: Bao vây - Nhìn lại một bước ngoặt của cuộc chiến - chiến dịch 77 ngày bao vây ở Khe Sanh và cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Tinh thần phản chiến ở nước Mỹ. Tập 8: Mặt trận trong lòng nước Mỹ - Tập trung vào quyết tâm của Nixon chấm dứt chiến tranh bằng cách gây áp lực với miền Bắc. Ông ta bắt đầu rút quân nhưng lại mở rộng chiến tranh sang Lào, Campuchia. Ngày càng có nhiều cuộc biểu tình, phản đối chiến tranh ở ngay trong lòng nước Mỹ. Tâp 9: Vật lộn - Tác động của những chính sách của Nixon đối với những người lính Mỹ còn ở lại trận địa sau khi Mỹ chuyển vai trò chỉ huy cuộc chiến cho quân chế độ Sài Gòn. Tập 10: Cuộc chiến xóm làng - Khám phá cuộc chiến đấu bền bỉ của những trái tim và khối óc của hàng nghìn ngôi làng ở phía Nam. Khi quân đội Mỹ rút đi, quân chế độ Sài Gòn không thể kiểm soát được cuộc chiến. Tập 11: Hòa bình - Phân tích quá trình tìm kiếm hòa bình trong suốt cuộc chiến. Sau cuộc đàm phán năm 1972, Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội. Sau đó là sự đột phá - lệnh ngừng chiến tại chỗ ký ở Paris. Tập 12: Đầu hàng - Nhìn lại miền Nam Việt Nam sau 2 năm Mỹ rút. Các thành phố ở miền Nam sụp đổ như quân cờ đô-mi-nô. Quân giải phóng tiến vào Sài Gòn; hàng nghìn người chạy tới cầu cứu Đại sứ quán Mỹ; nhân viên Mỹ được đưa đi từ trực thăng. Tập 13: Những người lính không được chào đón - Người dân Mỹ đón những người lính của mình trở về bằng sự im lặng; con mắt của nước Mỹ đối với 2,8 triệu cựu chiến binh Mỹ từ Việt Nam; cuộc sống của họ không bao giờ được như trước nữa.
Theo:Thanhnien online
[...More...]